Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Tâm tình trước mùa thi



Mùa vọng đã về và mùa thi sắp tới. Tôi bận rộn hơn mọi ngày. Những ngày trong năm học, tôi có nhiều thời gian để đọc sách ngoài giáo trình hơn. Tuy nhiên, vào dịp này tôi dồn hết thời gian ôn bài để chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới. Áp lực thi cử không quá lớn, nhưng một số môn học, tôi phải chăm chỉ lắm thì khi đó may ra tôi không bị liệt vào danh sách của các em cơ nhỡ.
Trong lúc cần cù với bài vở, tôi tự đặt câu hỏi phải chăng kiến thức mình học chỉ giới hạn trong những bản tóm tắt trả lời một số câu hỏi. Phải chăng mình học để thi? Và sau khi thi xong, những kiến thức đó không có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của tôi. Tôi băn khoăn và nhận ra một điều là tinh thần học tập của mình vẫn chưa thoát ra được lối học của phổ thông. Tinh thần đó vẫn mang dáng dấp của việc học đối phó. Cụ thể người học chỉ cần tiếp thu những gì được giáo viên giảng dạy, và tìm cách nào đó để tóm tắt, hệ thống lại những kiến thức đã được dọn sẵn để cho dễ nhớ. Và cứ thế càng nhớ nhiều càng lặp lại đúng bao nhiêu thì càng tốt. Người học không cần phải thắc mắc hay đặt vấn đề. Lối học đó vẫn được nhiều người ưa chuộng, vì người học có được người khác cầm tay chỉ việc.
Trái lại, tinh thần học tập của người phương Tây là nhắm đến cái biết của khoa học và ứng dụng những điều đã nghiên cứu vào trong cuộc sống thực tiễn. Chính vì thế họ luôn biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, triết gia Descartes một con người luôn biết đặt lại vấn đề bằng cách hoài nghi tất cả những điều ông đã được dạy ở trường cũng như trong sách vở. Ông hoài nghi không phải chỉ để hoài nghi nhưng là để tìm ra một chân lý không thể hoài nghi. Nhờ hoài nghi có phương pháp ông tìm ra một căn bản bất kháng “ Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu”.
Tinh thần học tập đó còn được thể hiện qua việc biết ngạc nhiên. Chính sự ngạc nhiên đó thúc đẩy con người đặt câu hỏi về sự chuyển động của mặt trời, trái đất. Ngạc nhiên là con đường dẫn đến tri thức vì ngạc nhiên là biết mình dốt. Và nhờ đó, thái độ hiểu biết rất thuần tùy, biết để mà biết chứ không phải biết để cầu lợi. Chính thái độ phản tỉnh đó giúp  thoát ly ra khỏi những định kiến của kinh nghiệm thường nhật. Thái độ phản tỉnh ấy xuất hiện là khi nhìn trời đất, vũ trụ với một thái độ vô tư và tự hỏi: “Tất cả những cái đó có nghĩa gì không? Tại sao chúng có? Hỏi thế nhưng ta không cầu lợi, chỉ hỏi vì cần hỏi, thế thôi!” Nhờ biết ngạc nhiên như vậy, mà phương Tây là cái nôi sản sinh bao nhiêu nhân tài khoa học và họ luôn có nhiều sáng chế về lãnh vực công nghệ.
Tinh thần biết đặt lại vấn đề còn muốn người học vượt lên cả người thầy của mình. Bởi vì, tâm thức của người học vẫn xem ông thầy là một giá trị tuyệt đối không thể vượt qua. Thành ra, người học không có tư duy riêng, và không dám nghĩ trái lại những điều thầy đã truyền dạy. Thầy dạy điều gì thì cứ thế mà làm theo. Vì thế người học suốt đời chỉ là những học trò ngoan ngoãn.
Mặt khác, tinh thần của học người phương Tây còn thể hiện là con người suy tư  gắn liền với thời cuộc. Suy tư để tiến đến chỗ  suy tư biến thành kinh nghiệm thực tế. Cụ thể ta thấy nơi hình ảnh của thánh Thomas Aquinas, thánh nhân đã là một con người của thời thế, Ngài đã băn khoăn đi tìm những giải đáp cho những vấn đề cấp bách thời đại của Ngài.
Trở lại với tinh thần học của tôi trên kia, dường như tinh thần đó phần nào chịu ảnh hưởng của  tư tưởng Khổng giáo. Khổng Tử đề cao việc học nhưng không nhấn mạnh đến vấn đề suy tư. Ông có nói đến suy tư nhưng rất ít. Chẳng hạn ông từng dạy: “Học nhi bất tứ tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi”. Học mà không suy tư thì như không, suy tư mà không học thì nguy hiểm. Những điều gì mình đã thu nhận bằng cách này hay cách khác là điều quý và rất cần, nhưng tự mình cần phải tìm hiểu cho rõ ràng thấu đáo.Tuy nhiên, nhiều đêm Khổng Tử thức khuya để suy tư, và sau đó ông cho rằng suy tư không đem lại lợi ích nhiều cho ông và chẳng bằng học. Từ đó ông chỉ chú tâm vào học. Ông miệt mài học tập đến nỗi quên cả tuổi già đang tới.
Việc học của Khổng Tử là học để biết ăn nói, học để biết làm người. Thành thử, ông chỉ chú tâm đến cái biết mà coi nhẹ suy tư. Ngoài ra, Khổng Tử còn nói “ Học để làm quan, làm quan mà có thì giờ thì học”. Đây có lẽ là một tư tưởng ảnh hưởng rất mạnh lên não trạng của người Việt Nam. Học không phải vì đam mê, vì nhắm đến chân lý, nhưng cố gắng học để đạt được một điều lợi đằng sau việc học. Hệ lụy của điều này, đó là người học chỉ chạy theo thành tích. Học không còn đi tìm ngọn nguồn của những kiến thức nữa mà chỉ dừng lại ở kiến thức để thi. Vì thế kiến thức chỉ được gói gọn trong những bản tóm tắt liên quan đến bài thi. Sau khi thi, những kiến thức đó cũng không dính dáng gì đến cuộc sống của mình, và thi xong là xong nhiệm vụ.
 Dĩ nhiên, những điều tôi chia sẻ trên không có nghĩa là việc học để có kiến thức làm bài thi, thì không quan trọng. Một người học cân bằng được cả hai đó là điều nên làm. Thế nhưng, nếu chỉ nhấn mạnh đến cái này bỏ qua cái kia thì nguy cơ dẫn đến những hệ lụy khác. Nhất là chỉ tập trung vào học để thi. Vì thế cần phải thay đổi tinh thần của việc học. Tinh thần đó là con người biết suy tư. Con người không bằng lòng với cái biết của thế giới hiện tượng, nhưng có một bản năng thôi thúc con người đi xa đến tận cùng đích của việc suy tư.
Trí tưởng tượng thì quan trọng hơn kiến thức. Bởi vì kiến thức là những cái có sẵn trong sách vở, chính việc tư duy mới làm cho người học có những ý nghĩ và thế đứng riêng cho mình.  Nhờ tư duy việc học luôn khám phá ra những điều mới mẻ. Một triết gia đã từng nói: “Hạnh phúc là cái làm cho mình không chán”. Thì việc học là một trong những điều đem lại hạnh phúc đó.  Học là cái làm mình không chán. Bởi lẽ, việc học đúng nghĩa luôn tạo ra những cái mới, càng học càng khám phá thêm nhiều điều mới lạ.
                                                                                                                      Khát vọng






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét