Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Con người là khát vọng

Trong truyện “Narzib und Goldmund” của Hesse  kể về hai người bạn chân tình là Narzid và Goldmund.[1] Chàng tu sĩ Narzib tìm thấy lẽ sống và bản sắc của mình trong thế giới tinh thần tự quy. Nhưng từ khi kết bạn với chàng lãng tử Goldmund, tính tự quy này bị chao đảo. Làm bạn với Goldmund, Narzib trở thành một con người khác. Ở Goldmund cũng vậy. Tự ý thức gắn chặt với thú vui trần thế, luôn đi ra khỏi chính mình và sẵn sàng hiến dâng cho người khác. Tình bạn với Narzib làm cho sự đánh mất mình một cách vô độ này cũng bị chao đảo. Nên rút cục, cả hai Narzib và Godmund đều nhận ra chính mình nơi người bạn của mình, họ thực hiện điều Hegel đã đòi hỏi: “ Họ thừa nhận nhau như đang là thừa nhận lẫn nhau”. Thật vậy, theo Hegel con người là dục vọng. Nói cách khác, con người là khát vọng. Hegel đã có công chỉ ra được cái âm tính của chủ thể.
I.                     Chủ thể là tinh thần
1.       Ý thức tự quy
Cái Tôi của Descartes là cái tôi của sự vật có tư duy, chiều hướng của cái tôi biến mất, còn Kant cho rằng cái Tôi chỉ là ý thức thôi, cái Tôi chỉ là hình bóng chỉ có thể đi kèm với các biểu tượng khác. Hegel đi một bước xa hơn nữa, ông cho rằng cái Tôi đó là khát vọng. Hegel nói ý thức tự quy nơi con người là khát vọng, mà khát vọng đó bắt nguồn từ con thú, làm sao đề ham muốn con thú này nó nhô lên thành ham muốn cùa con người.
Vậy, ý thức tự quy hay tự ý thức là gì ? Theo từ nghĩa, tự ý thức là biết về chính mình, là ý thức về mình. Nhưng nếu vậy thôi thì đó chỉ mới là sự lặp thừa bất động: “Tôi là tôi”. Tự ý thức còn là cái gì nhiều hơn thế: Nó là ý thức về ý thức về đối tượng; hay dễ hiểu hơn: tôi biết về điều mình biết về đối tượng.
Eugen Fink (1977: 161) cho ta một định nghĩa rất rõ: trong cái biết của tự ý thức, cái Tôi đứng đối diện cái với được biết. Có nghĩa là, cái Tôi không đối diện với đối tượng nữa như trong giai đoạn cảm tính mà với đối tượng đã được biết. Qua đó, cái tôi không chỉ tự quan hệ với chính mình: cái Tôi = Tôi đã được mở rộng: nó nhận biết chính mình trong sự nhận biết về cái xa lạ, hay nói theo kiểu Hegel, nó đến với chính mình từ một cái tồn tại ở bên ngoài mình.[2]
Một ví dụ đơn giản: nhà vật lý thiên văn nghiên cứu “hiện tượng” những lỗ đen trong vũ trụ và phát triển một lý thuyết X hay Y nào đó. Trong sự nghiên cứu này, cái biết của nhà khoa học không phải là mối quan hệ giữa nhà khoa học và những lỗ đen mà là giữa nhà khoa học với lý thuyết X hay Y. Cái biết của nhà thiên văn quan hệ với cái biết về những lỗ đen nghĩa là cái biết quan hệ với chính nó. Như vậy, tự ý thức không còn làm việc với cái xa lạ nữa mà với chính mình ở trong cái biết của mình.
 Ralf Ludwig (1997: 77) cũng cho ví dụ: Giữa cái biết đơn giản của tôi về cơn đói và cái biết về cái biết này rõ ràng có một sự nâng cao rõ rệt về cái biết: một sự ăn kiêng chỉ có ý nghĩa khi nó không liên hệ đến cơn đói mà đến cái biết về cơn đói. Với cái biết này, con người có thể ăn kiêng, nhưng con vật sẽ chết đói bởi nó không biết về cái biết này.
Thêm vào đó, một điểm hết sức quan trọng của triết lý Hegel khi nói về ý thức tự quy đó là thoát khỏi chủ nghĩa độc tôn chủ thể (solipsisme), Descartes không thể đến được với tha nhân, cũng như Kant chỉ tìm gặp tha nhân bằng sự kính trọng nhưng chưa có sự tương quan giữa hai chủ thể. Trong khi đó, ý thức tự quy nơi Hegel đòi hỏi phải có ít nhất là hai khát vọng. Hegel đã thiết lập mối tương quan giữa hai chủ thể.
2.       Sự ham muốn (Begierde): mặt thực hành của tự ý thức
Con người là ham muốn một ham muốn khác. Trước đây, tự ý thức đã trải qua những kinh nghiệm với đối tượng, bây giờ tự ý thức cũng sẽ nếm trải kinh nghiệm nhưng với chính mình để biết mình là gì. Nói cách khác, nó phải tự biểu hiện ra, phải tự đối tượng hóa. Để làm điều này nó phải “muốn” trước đã. “Muốn”, “ham muốn” là cơ sở cho mọi quan hệ thực hành, và Hegel gọi đó là sự ham muốn (Begeierde).
Sự ham muốn thể hiện rất đa dạng, ở nhiều lãnh vực khác nhau. Ở cấp độ hiện nay sự ham muốn ít nhất thể hiện ở ba mặt: Trước hết, ở bình diện sinh vật sự ham muốn nhắm đến những gì cần thiêt trực tiếp để duy trì sự sống: trong việc “tiêu thụ” đối tượng được ham muốn, cái tồn tại khác của đối tượng bị thủ tiêu, rồi lại nảy sinh đối tượng và sự ham muốn mới. Tuy nhiên, con người không chỉ cần ăn mà còn nhiều sự vật khác, nhiều mối quan hệ với hiện thực bên ngoài: tôi phải “phủ định” cái khác để có thể sử dụng nó cho tôi. Chẳng hạn phải thủ tiêu sự tồn tại của củi, dầu để có lửa và hơi nóng.
Ngoài ra, còn sự ham muốn hiểu biết nữa, đây cũng là một động lực trong sự đào luyện con người.
Cái ham muốn mà chúng ta muốn trình bày trong đề tài ở đây lại nhằm đến ham muốn được người khác công nhận “ Tự ý thức chỉ đạt được sự thỏa mãn trong một tự ý thức khác” hay chủ thể là tinh thần mà tinh thần ở đây là khát vọng.
II.                  Khát vọng muốn được công nhận
1.       Biện chứng pháp chủ nô
1.1 Con đường đấu tranh để được công nhận về phía ông Chủ
Tự ý thức phải thể hiện như là sự phủ định đối với cái gì mang tính khách quan và tính cá biệt. Yêu cầu này mang hình thức của sự mong muốn cái chết của cái khác bằng cách sẵn sàng từ bỏ mạng sống của chính mình. Tự ý thức phải sẵn sàng muốn hy sinh mọi sự vật cụ thể cho lòng tự trọng vô tận của chính mình và để có được sự tôn trọng tương tự của mọi cái khác. Vì thế một cuộc đấu tranh mất còn diễn ra giữa hai tự ý thức đang đối nhau.
Chủ là người liều mạng dám mất mạng sống của mình. Chủ coi ý nghĩa của sự sống cao hơn sự sống. Là người có công đầu trong việc khai mào lịch sử. Nói cách khác, là người lồng vào sự sống đơn thuần một ý tưởng.
Chủ và Nô hai bên đều truy nhận nhau, chủ coi nô là nô và nô nhận chủ là chủ.
Tự ý thức của Chủ thiết yếu quan hệ với sự tồn tại của những sự vật đơn thuần mà Chủ sử dụng thông qua tự ý thức của Nô. Nô phải làm việc cho sự hưởng thụ của Chủ. Mặt khác tự ý thức của Chủ dùng mọi công cụ thưởng phạt, cưỡng chế để khuất phục Nô. Nô lao động với sự vật, nhưng không hoàn toàn lược bỏ được vật tính của chúng, bởi sự vật không trở thành những gì mà Nô mong muốn, hay không tồn tạ cho Nô. Còn Chủ thì bòn rút và hưởng thụ từ lao động của Nô. Nhưng, ở đây bắt đầu xuất hiện hai yếu tố mới do chỉ thuần túy hưởng thụ nên Chủ chỉ quan hệ với phương diện không độc lập tự chủ của sự vật, và nhường phương diện ấy cho Nô, kẻ đang lao động với sự vật.[3]
Dầu vậy, Chủ không thỏa mãn vì mình được công nhận bởi một kẻ thấp hơn mình. Nói cách khác, Chủ không thể đạt được sự thừa nhận qua lại mà tự ý thức của Chủ đòi hỏi từ một tự ý thức bị hạ thấp giá trị và bị khuất phục. Cùng với đó, lối sống của ông chủ là không thỏa mãn, vì ông Chủ phải dựa vào những đồ vật của người nô lệ. Kinh nghiệm của ông Chủ về thời gian là những chốc lát, thoáng qua. Khoái lạc không lưu lại, không vững bền, nó xuất hiện rồi nó biến mất. Do đó, kinh nghiệm về thời gian của ông chủ không được thỏa mãn, ông chủ chạy từ cái này sang cái khác để trốn tránh sự chán nản.
1.2   Về phía Nô
Trái lại về phía người nô lệ, sự sống là căn bản cho mọi sự. Cái sự sống mà ông chủ cho là vô nghĩa. Nô quý mạng sống, vì ý thức được rằng không có sự sống thì không thể xây dựng được gì cả. Kinh nghiệm thứ hai là nỗi sợ xâm chiếm hết thớ thịt của con người khi trực diện với sự chết. Nó làm cho những gì là mạch lạc trong đời sống của tôi tiêu tan hết, trực diện với ông chủ tuyệt đối là cái chết. Khi được tha mạng thì mình không cón là chủ thể nữa mà tất cả ý muốn của mình ở nơi ngươi khác và do đó phải vâng lời và phải lao động, lao động chủ yếu cho kẻ khác. Lao động là khổ sai.
Do kinh sợ và hãi hùng tuyệt đối trước ông Chủ nên Nô được thức tỉnh khỏi mọi sự đồng nhất hóa chật hẹp và lợi ích tự kỷ của mình, và được nâng lên thành tính phủ định thuần túy, thành tính phổ biến, vượt bỏ sự phụ thuộc, gắn liền với cái hiện hữu tự nhiên, và mới mang được đặc điểm của tự ý thức đích thực.[4]
Thêm vào đó, nhờ kinh nghiệm lao động, Nô biết rằng mình có khả năng biến đổi thiên nhiên theo chiều hướng mình muốn. Lao động là một hình thức sáng tạo.
Nô lại có thuận lợi và ưu thế: khi lao động với sự vật, Nô biến đối tượng thành cái trường tồn, làm cho sự vật bên ngoài thành cái của mình và đặt chính mình vào trong đó, trong khi quan hệ của Chủ với sự vật chỉ kết thúc ở sự hưởng thụ chóng qua. Nô vượt qua được cái tồn tại khác và cái hiện hữu đơn thuần của “vật tính” một cách trọn vẹn hơn Chủ, và do đó đạt được một tự ý thức đích thực hơn.[5]
Trong lao động, tức kiến tạo hình thể cho sự vật một cách sáng tạo, Nô trở nên ý thức về sự tồn tại tự mình và cho mình. Ngoài ra, chính kỷ luật trong phục vụ và sự vâng lời cũng là thiết yếu đối với tự ý thức: Sự làm chủ đơn thuần đối với sự vật không đủ để đạt được điều này. Chỉ có kỷ luật của sự phục vụ mới làm cho cái tồn tại tự giác thực sự làm chủ chính mình, tức làm chủ cái tự ngã hữu tận, bất tất và tự nhiên của mình. Không có kỷ luật thì năng lực kiến tạo ắt sẽ suy thoái thành “tài khéo”, “khôn vặt”, nhằm phục vụ ý chí riêng, chủ quan, chật hẹp, chứ không phải là hành động kiến tạo phổ biến, không thể làm chủ đối với sức mạnh phổ biến cũng như trên toàn bộ thực tại khách quan.[6]

1.3   Nhận xét về biện chứng pháp chủ nô[7]
Biện chứng pháp trên đây có thể phiền toái hơn, vì con người không phải chỉ đương đầu với nhau trong phạm vi hạn hẹp thân thể của mỗi người, mà còn đem theo vào cuộc tranh đấu không những các đồ vật sở hữu của mình mà còn cả những người thân thuộc, cả dân tộc của mình nữa.
Sức mạnh của một người không phải chỉ ở nơi bắp thịt mà còn ở tài sản, và ở nơi đoàn thể của mình nữa. Một đứa trẻ có thể mạnh hơn một lực sĩ vì nó có súng. Một người tầm thường yếu ớt có thể dám chửi bới một người khỏe mạnh có khí giới, chỉ vì biết mình là thành phần của đoàn thể có tổ chức.
Cái sợ là một yếu tố quan trọng trong tương quan giữa người với người. Trong mỗi đoàn thể, trong mỗi xã hội, lại có thể có sự tranh đấu để dành lấy địa vị lãnh đạo, để sử dụng xã hội lấy lợi cho mình, dĩ nhiên là dưới danh nghĩa bảo vệ và phụng sự đoàn thể. Ý thức hệ sẽ được đưa ra để biện chính cho tham vọng cá nhân. Dối mình thì khó mà dối người thì dễ, và cái hư hư thực thực của ý thức hệ làm cho nó thành một yếu tố căn bản trong đời sống xã hội.
Đoàn thể là sức mạnh của ta, đồng thời là sức mạnh đè bẹp ta. Chưa hết, đoàn thể cũng như tài sản, còn là cái làm cho ta mất sức mạnh.
Vì sao thế ? Tranh đấu đòi phải liều lĩnh. Do đó, càng có nhiều của cải, càng trách nhiệm nhiều về đoàn thể thì càng không dám liều. Trong các cuộc thử sức, những người có tiền của có địa vị trong xã hội thường ít khi dám liều. Họ sẵn sàng chịu thua, chịu nhượng bộ để sống và để hưởng giàu sang; họ rất dễ phản bội, nhất là khi có ý lợi dụng đoàn thể. Chỉ những người không có gì phải sợ mất mới dễ liều, mới dễ phiêu lưu.
Xã hội loài người đã và đang sống trong sự phân chia giai cấp như thế. Những người yếu, những dân tộc kém mở mang, những đoàn thể thiểu số, thường bị bắt vào giai cấp dưới. Ý thức hệ mọc ra nhan nhản để biện chính cho sự chênh lệch đó. Có kẻ cho rằng nô lệ là một loại người hèn kém vì bản tính như thế.
Giai cấp trên ý thức được mình vượt lên trên vật chất. Do đó, họ thường có tư tưởng duy trí. Họ làm chủ người khác chứ không tự chủ. Trái lại, giai cấp dưới ý thức được rằng mình là vật chất, mất đời sống sinh lý tức là mất hết. Tư tưởng của họ thường là duy vật. Họ không làm chủ người khác, nhưng làm chủ vật giới và làm chủ bản thân. Do đó họ ý thức được giá trị của lao động, giá trị của thời gian và cho rằng thực chất của đời người là lao động. Khi giai cấp chủ thắng thế thì giá trị con người là ở chỗ tư tưởng. Khi giai cấp dưới đã làm chủ được thiên giới, thì ưu thế về phần họ: giá trị con người là ở lao động. Ở trong xã hội kém mở mang về kỹ thuật, giai cấp dưới bị yếu thế.
Mộ xã hội xây dựng theo tổ chức xã hội lý, không dừng lại ở việc phân chia giai cấp và phân chia ý thức như thế. Người Nô lệ bắt đầu ý thức được rằng mình là vật chất, đến chỗ ý thức rằng mình là chủ thể. Giữa ý thức về tự do và tình trạng nô lệ có sự mâu thuẫn. Lịch sử xã hội nhằm tiêu diệt cái mâu thuân đó. Xã hội sẽ gồm những người bình đẳng, tư tưởng người ta  sẽ không còn phải là duy tâm hay duy vật, nhưng người ta sẽ ý thức về mình như là một chủ thể tại thế.

III.                Con đường đến với tha nhân
1.        Quan điểm của Jean Paul Sartre về vấn đề nhìn nhận tha nhân.
Sartre từng đưa ra nhận định “Đối với ý thức tôi, tha nhân chỉ hiện hữu như một bản ngã bị từ chối. Nhưng tha nhân cũng chính là một bản ngã, nên tha nhân chỉ bị tôi chối cho tôi, xét như tha nhân là một bản ngã đang chối tôi. Chối, chối và chối: anh bị từ chối, tôi chối anh vì anh chôi tôi”.[8]
Một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng Jean Paul Sartre ảnh hưởng một phần nào đó của tư tưởng Hegel. Con đường đến với tha nhân là con đường đấu tranh. Thành thử, Sartre rất khó để công nhận tha nhân như là một chủ thể ngang hàng với mình. Ngay cả trong chuyện tình yêu Sartre cũng có những quan niệm đặc sắc về tình yêu: Trước hết, tôi phải liệu chiếm được chủ thể tính của tha nhân nghĩa là liệu sao đừng biến tha nhân thành sự vật; thứ đến, muốn giữ nguyên chủ thể tính của tha nhân, chính tôi lại cần coi mình như một vật bị nhìn. Tóm lại, tôi hoàn toàn coi mình là sự vật bị nhìn, có thế mới giữ được sự tự do ngó nhìn của tha nhân chủ thể. Dự phóng thông cảm với tha nhân là một dự phóng phi lý và không thể thự hiện được.
2.        Gabriel Marcel và con đường gặp gỡ tha nhân.
Theo Marcel hai chủ thể có thể gặp gỡ nhau khi hai người cùng kính trọng như những nhân vị đầy đủ chủ quyền và đầy đủ khôn ngoan.
Marcel cho biết theo kinh nghiệm của ông, mối tương đồng này rất ít thấy trong xã hội loài người. Người ta đưa ra những danh từ rất kêu như đồng bào, bình đẳng, đề cao nhân vị, nhân quyền. Tuy nhiên, thực mỗi người chỉ biết có mình thôi. Chỉ có tôi là nhân vị, chỉ mình tôi là chủ thể. Vì thế, khi người ta nói chuyện và bàn tính công việc với nhau, người trên thường lấy giọng phán truyền và người dưới biết ngay có đưa ra những ý kiến hay, cũng không được chấp nhận. Như vậy làm sao có đối thoại và gặ gỡ được. Điều này đúng cho tất cả mọi giao tiếp giữi người với người, giao tiếp chính trị, giao tiếp xã hội và giao tiếp gia đình. Trong tất cả mọi giao tiếp, gặp gỡ là điều kiện để có nhân đạo, và là điều kiện để thêm phong phú cho con người.[9]
3.        Ái tình
Thái độ người ta trong tình yêu khác với thái độ trong một xã hội mà các chủ thể tranh đấu nhau để được công nhận.
Nếu trước đây ta ý thức về, người khác, xét là người khác ta thì ở đây ta nhận ra người khác giới. Khác, nhưng lại bổ túc cho ta. Trong xã hội lý, ta bắt đầu từ chỗ tự tôn làm chủ và tìm cách khuất phục người khác, để rồi bó buộc nhìn nhận nhau như là những chủ thể bình đẳng. Trái lại, ở đây thì khác, ta không tìm cách đặt mình làm chủ người khác, coi người khác là phụ thuộc vào mình. Do đó, ta không đe dọa sinh mạng người khác và người khác và người khác cũng không đe dọa sinh mạng ta, vì chúng ta không tìm cách khuất phục nhau, nhưng là chúng ta tìm cách bảo đảm sinh mạng cho nhau và giúp đỡ nhau thăng tiến. Chúng ta nhìn nhận nhau ngay từ đầu. Anh yêu em dù em có thế nào trong mắt của anh em là tuyệt vời nhất.
Lúc này, liên lạc giữa người với nhau là liên lạc tự do, có những kiểu cách tế nhị. Trong khi tranh đấu để làm chủ vật giới và làm chủ người khác, ta không cần phải hỏi ý kiến xem vật giới và người khác có đồng ý với thái độ của ta hay không. Ngược lại, trong tình yêu người ta phải có sự ưng thuận của người kia mới được.
Kết quả không phải đánh nhau chí tử, mà là hợp nhất với nhau một cách sâu xa. Ở đây người ta gặp gỡ nhau trên tất cả bình diện có thể hiện thân được. Không những gặp nhau như là những công dân bình đẳng trong một định chế xã hội mà còn gặp nhau nơi thân thể là chỗ hiện thân căn bản. Hai người nam nữ có thể gặp nhau mật thiết đến nỗi vận mệnh hai người gắn liền với nhau.
Tất cả những xích mích chưa giải quyết được trong xã hội lý đều có thể thu xếp ổn thỏa ở đây. Vì trong tình yêu những ý niệm như quyền lợi đều mất ý nghĩa.
IV.                 Kết luận
Con đường đến với tha nhân theo Hegel là con đường đấu tranh để được người khác công nhận. Trái lại, con đường của Kitô giáo là con đường tìm gặp nhau trong yêu thương. Sở dĩ, Hegel không chọn con đường này vì ở nơi nẻo đường này đòi hỏi một thái độ Metanoia nghĩa là đảo ngược. Sự đảo ngược này được thể hiện rõ nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Ngài vì yêu thương nhân loại đã hy sinh mạng sống, hay nói cách khác là liều mất mạng sống để cứu độ nhân loại. Thông thường chúng ta giận ai, căm thù ai, chúng ta thường trút những căm thù và bạo lực lên người khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu thay vì nổi loạn, Ngài đã ôm lấy tất cả những thù hận, hứng chịu tất cả bạo lực của người khác vào nơi mình. Ngài là con người lịch sử và có công đầu khai mào lịch sử.

Tài liệu tham khảo.
1.       G. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải
2.       Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008
3.       Trần Văn Toàn, Hành trình đi vào Triết học, NXB Tri thức, 2012
4.       Trần Thái Đỉnh , Biện chứng pháp là gì, Ca dao, không rõ năm xuất bản
5.       Trần Thái Đỉnh, Triết học Descartes, NXB Văn học, 2005
6.       Trần Thái Đỉnh, Triết học Kant,Văn mới, 1974
7.       Nguyễn Trọng Viễn, Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin Công giáo tại Việt Nam, Chân lý, 2003




[1] Xem: H. Hesse: “ Narzib und Goldmund”; bản tiếng Việt: “Đôi bạn chân tình”, Vũ Đình Hựu dịch, NXB Ca dao, không nhớ năm.
[2] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006.
[3] Trần Thái Đỉnh, Biện chứng pháp là gì?, Ca dao, không rõ năm xuất bản, tr. 96
[4] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006, tr.458.
[5] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006, tr.459.
[6] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006, tr.459.
[7] Trần Văn Toàn, Hành trình đi vào con đường Triết học, NXB Tri thức,  2012, tr. 80
[8] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008, tr. 335.
[9] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008, tr. 289.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Tâm tình trước mùa thi



Mùa vọng đã về và mùa thi sắp tới. Tôi bận rộn hơn mọi ngày. Những ngày trong năm học, tôi có nhiều thời gian để đọc sách ngoài giáo trình hơn. Tuy nhiên, vào dịp này tôi dồn hết thời gian ôn bài để chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới. Áp lực thi cử không quá lớn, nhưng một số môn học, tôi phải chăm chỉ lắm thì khi đó may ra tôi không bị liệt vào danh sách của các em cơ nhỡ.
Trong lúc cần cù với bài vở, tôi tự đặt câu hỏi phải chăng kiến thức mình học chỉ giới hạn trong những bản tóm tắt trả lời một số câu hỏi. Phải chăng mình học để thi? Và sau khi thi xong, những kiến thức đó không có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của tôi. Tôi băn khoăn và nhận ra một điều là tinh thần học tập của mình vẫn chưa thoát ra được lối học của phổ thông. Tinh thần đó vẫn mang dáng dấp của việc học đối phó. Cụ thể người học chỉ cần tiếp thu những gì được giáo viên giảng dạy, và tìm cách nào đó để tóm tắt, hệ thống lại những kiến thức đã được dọn sẵn để cho dễ nhớ. Và cứ thế càng nhớ nhiều càng lặp lại đúng bao nhiêu thì càng tốt. Người học không cần phải thắc mắc hay đặt vấn đề. Lối học đó vẫn được nhiều người ưa chuộng, vì người học có được người khác cầm tay chỉ việc.
Trái lại, tinh thần học tập của người phương Tây là nhắm đến cái biết của khoa học và ứng dụng những điều đã nghiên cứu vào trong cuộc sống thực tiễn. Chính vì thế họ luôn biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, triết gia Descartes một con người luôn biết đặt lại vấn đề bằng cách hoài nghi tất cả những điều ông đã được dạy ở trường cũng như trong sách vở. Ông hoài nghi không phải chỉ để hoài nghi nhưng là để tìm ra một chân lý không thể hoài nghi. Nhờ hoài nghi có phương pháp ông tìm ra một căn bản bất kháng “ Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu”.
Tinh thần học tập đó còn được thể hiện qua việc biết ngạc nhiên. Chính sự ngạc nhiên đó thúc đẩy con người đặt câu hỏi về sự chuyển động của mặt trời, trái đất. Ngạc nhiên là con đường dẫn đến tri thức vì ngạc nhiên là biết mình dốt. Và nhờ đó, thái độ hiểu biết rất thuần tùy, biết để mà biết chứ không phải biết để cầu lợi. Chính thái độ phản tỉnh đó giúp  thoát ly ra khỏi những định kiến của kinh nghiệm thường nhật. Thái độ phản tỉnh ấy xuất hiện là khi nhìn trời đất, vũ trụ với một thái độ vô tư và tự hỏi: “Tất cả những cái đó có nghĩa gì không? Tại sao chúng có? Hỏi thế nhưng ta không cầu lợi, chỉ hỏi vì cần hỏi, thế thôi!” Nhờ biết ngạc nhiên như vậy, mà phương Tây là cái nôi sản sinh bao nhiêu nhân tài khoa học và họ luôn có nhiều sáng chế về lãnh vực công nghệ.
Tinh thần biết đặt lại vấn đề còn muốn người học vượt lên cả người thầy của mình. Bởi vì, tâm thức của người học vẫn xem ông thầy là một giá trị tuyệt đối không thể vượt qua. Thành ra, người học không có tư duy riêng, và không dám nghĩ trái lại những điều thầy đã truyền dạy. Thầy dạy điều gì thì cứ thế mà làm theo. Vì thế người học suốt đời chỉ là những học trò ngoan ngoãn.
Mặt khác, tinh thần của học người phương Tây còn thể hiện là con người suy tư  gắn liền với thời cuộc. Suy tư để tiến đến chỗ  suy tư biến thành kinh nghiệm thực tế. Cụ thể ta thấy nơi hình ảnh của thánh Thomas Aquinas, thánh nhân đã là một con người của thời thế, Ngài đã băn khoăn đi tìm những giải đáp cho những vấn đề cấp bách thời đại của Ngài.
Trở lại với tinh thần học của tôi trên kia, dường như tinh thần đó phần nào chịu ảnh hưởng của  tư tưởng Khổng giáo. Khổng Tử đề cao việc học nhưng không nhấn mạnh đến vấn đề suy tư. Ông có nói đến suy tư nhưng rất ít. Chẳng hạn ông từng dạy: “Học nhi bất tứ tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi”. Học mà không suy tư thì như không, suy tư mà không học thì nguy hiểm. Những điều gì mình đã thu nhận bằng cách này hay cách khác là điều quý và rất cần, nhưng tự mình cần phải tìm hiểu cho rõ ràng thấu đáo.Tuy nhiên, nhiều đêm Khổng Tử thức khuya để suy tư, và sau đó ông cho rằng suy tư không đem lại lợi ích nhiều cho ông và chẳng bằng học. Từ đó ông chỉ chú tâm vào học. Ông miệt mài học tập đến nỗi quên cả tuổi già đang tới.
Việc học của Khổng Tử là học để biết ăn nói, học để biết làm người. Thành thử, ông chỉ chú tâm đến cái biết mà coi nhẹ suy tư. Ngoài ra, Khổng Tử còn nói “ Học để làm quan, làm quan mà có thì giờ thì học”. Đây có lẽ là một tư tưởng ảnh hưởng rất mạnh lên não trạng của người Việt Nam. Học không phải vì đam mê, vì nhắm đến chân lý, nhưng cố gắng học để đạt được một điều lợi đằng sau việc học. Hệ lụy của điều này, đó là người học chỉ chạy theo thành tích. Học không còn đi tìm ngọn nguồn của những kiến thức nữa mà chỉ dừng lại ở kiến thức để thi. Vì thế kiến thức chỉ được gói gọn trong những bản tóm tắt liên quan đến bài thi. Sau khi thi, những kiến thức đó cũng không dính dáng gì đến cuộc sống của mình, và thi xong là xong nhiệm vụ.
 Dĩ nhiên, những điều tôi chia sẻ trên không có nghĩa là việc học để có kiến thức làm bài thi, thì không quan trọng. Một người học cân bằng được cả hai đó là điều nên làm. Thế nhưng, nếu chỉ nhấn mạnh đến cái này bỏ qua cái kia thì nguy cơ dẫn đến những hệ lụy khác. Nhất là chỉ tập trung vào học để thi. Vì thế cần phải thay đổi tinh thần của việc học. Tinh thần đó là con người biết suy tư. Con người không bằng lòng với cái biết của thế giới hiện tượng, nhưng có một bản năng thôi thúc con người đi xa đến tận cùng đích của việc suy tư.
Trí tưởng tượng thì quan trọng hơn kiến thức. Bởi vì kiến thức là những cái có sẵn trong sách vở, chính việc tư duy mới làm cho người học có những ý nghĩ và thế đứng riêng cho mình.  Nhờ tư duy việc học luôn khám phá ra những điều mới mẻ. Một triết gia đã từng nói: “Hạnh phúc là cái làm cho mình không chán”. Thì việc học là một trong những điều đem lại hạnh phúc đó.  Học là cái làm mình không chán. Bởi lẽ, việc học đúng nghĩa luôn tạo ra những cái mới, càng học càng khám phá thêm nhiều điều mới lạ.
                                                                                                                      Khát vọng






Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Vài kinh nghiệm giúp thanh thiếu niên cai nghiện ma túy



Sau một thời gian ngắn làm việc với các em nghiện ma túy, tôi rút ra được một vài kinh nghiệm, còn rất giới hạn và chưa được chính xác lắm. Tuy nhiên, trước mối nguy hiểm càng ngày càng lan rộng của cơn hồng thủy ma túy, tôi tạm đúc kết những kinh nghiệm ấy như vài nét khai phá, gởi tới các anh chị đang công tác ở sứ vụ này, và rất mong được trao đổi góp ý thêm.
I.      Nguyên nhân
1.  Những nguyên nhân hoàn cảnh
Có rất nhiều nguyên nhân đưa các bạn trẻ vào vòng kiểm tỏa của ma túy, ta cố gắng kể ra một số như sau:
Gia đình: Những em không có đời sống gia đình; hoặc gia đình có nhiều chuyện buồn, cha mẹ lục đục lo làm ăn, ít quan tâm đến con cái…
Môi trường sống: Hoàn cảnh sống chung quanh của các em, các bạn bè xấu, những môi trường dễ nhiễm độc: chợ búa, bến xe…
Biến cố: Gặp một khó khăn nào đó, như bị thi rớt, thất nghiệp, không chơi được với ai.
2.  Những nguyên nhân nội tại
Về tâm lý: Những người dễ rơi vào tình trạng nghiện ngập là những người thiếu một mối tương quan cụ thể, thiếu những giao tiếp thân tình và cụ thể; luôn cần tới những ve vuốt giác quan và cảm giác lạ…
Về nhân cách:
 Có thể đây là những người thiếu bản lãnh, không có khả năng quyết định khác với người khác, bị bạn bè lôi kéo…
Cũng có thể ham vui ( tâm hồn hời hợt).
Ảo tưởng về năng lực của mình (chủ quan)
Không có trách nhiệm với gia đình
Về kiến thức: Có thể đây là những người thiếu hiểu biết hoặc coi thường sự nguy hiểm của ma túy.
Về luân lý: Đời sống luân lý sa đọa, quen trộm cắp, quen phá làng xóm.
Về tương lai: Thiếu lý tưởng, bỏ học sớm, không biết làm gì khác hơn là lang thang chơi bời.
Bình thường nếu chỉ mới làm quen với các bạn nghiện ngập và qua một số câu hỏi, ta có thể khó xác định được đâu là nguyên nhân chính. Chính các bạn ấy, có lẽ cũng không thể hiểu mình hoặc có thể không trả lời trung thực lắm. Do đó, nên tìm hỏi han và trao đổi thêm về điều này với một người thân hoặc một người nào trong gia đình của người nghiện.
Sau một thời gian làm việc với các bạn nghiện, có lẽ chúng ta sẽ có thêm dữ kiện để hiểu đâu là nguyên nhân chính đưa tới tình trạng nghiện ngập. Nếu khám phá được nguyên nhân chính, việc giúp cai nghiện sẽ có thêm ánh sáng. Tuy vậy, phần lớn trong các hoàn cảnh, ta thấy có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tương tác và dính chùm vào nhau.
II.  Tiến trình giúp cai nghiện
1.  Trước khi “cắt cơn”
Trình bày những tai hại của ma túy: Ma túy phá hủy cuộc sống và tương lai của chính mình; làm khổ những người thân và có thể hủy hoại tất cả mọi sự tốt đẹp trong gia đình; nhân cách sa đọa, nhục nhã… tất cả là để thôi thúc sự dằn vặt trước bệnh nghiện.
Gợi lên lòng khao khát mãnh liệt muốn từ bỏ ma túy bằng mọi giá. Gợi lên lòng can đảm muốn vươn lên, không thể thua cuộc, không thể đánh mất cuộc đời cách dễ dàng như thế.
Có thể gợi ý cho các bạn ấy viết nhật ký để thấm sâu, hun đúc một sức mạnh tinh thần.
2.  Đang khi “cắt cơn”
Cần có sự hỗ trợ cảm thông, yêu thương, liên đới của  người thân trong những ngày cắt cơn.
Cần một người đồng hành, theo sát, khuyến khích, giữ vững quyết tâm và săn sóc khi cần.
Cần sự hỗ trợ của đời sống cầu nguyện, xưng tội, rước lễ, đọc kinh gia đình…
Bình thường việc cắt cơn có vẻ đau đớn, dằn vặt, nhưng không đến nỗi khó lắm. Phần lớn các bạn đã dũng cảm vượt qua được giai đoạn này. Nếu cần có thể nhờ một bác sĩ theo dõi.
3.  Sau khi cắt cơn
a.  Vần đề
Đây là gia đoạn khó nhất và phức tạp nhất. Ma túy không phải là một thứ virus nên không có những di hại thể lý nghiêm trọng lắm. Thật ra, có thể nói rằng ma túy chỉ là những triệu chứng thể lý và xã hội của một căn bệnh tâm hồn. Do đó, việc cai nghiện ma túy không thể giản lược vào bất cứ một giải pháp y học nào. Cai nghiện hiểu như là sự cắt cơn dằn vặt thể lý, đó là việc tương đối dễ. Nhưng để có thể bỏ vĩnh viễn, không tái nghiện, cần có những biện pháp chữa trị tâm hồn và điều này khó hơn rất nhiều.
Như thế cần phải xác định rằng trọng tâm của việc cai nghiện ma túy là chữa trị tâm hồn. Trong vấn đề này, mỗi con nghiện có hoàn cảnh riêng, cá tính riêng, cần người trợ giúp phải suy nghĩ, nhạy cảm để nhận ra những cách thức giải quyết riêng.
Bình thường các bạn trẻ ít khi có đủ can đảm để dứt khoát định cư, đi lập nghiệp luôn ở một nơi xa xôi hẻo lánh; các bạn luôn ảo tưởng nghĩ rằng sau khi đã cai nghiện xong, có thể dễ dàng trở về môi trường cũ và làm lại cuộc đời. Thế rồi, bình thường khi trở về môi trường cũ, nếp sinh hoạt cũ lại tái diễn, kèm theo những cám dỗ và rồi sa ngã lại… Do đó, điều quan trọng hơn vẫn là phải ổn định một nếp sinh hoạt lành mạnh tại chính môi trường sống thường ngày…
b.  Những “chiếc rễ” trong tâm hồn
Như trên đã nói, chúng ta có thể tìm thấy một nguyên nhân của căn bệnh nghiện ma túy. Tuy nhiên, khác với những căn bệnh khác, bệnh nghiện ma túy một khi đã xâm nhập, nó trở nên một đòi hỏi hết sức mãnh liệt, nó lợi dụng mọi nết xấu đã có, và tạo nên những nết xấu mới hầu có thể có thêm phương cách thỏa mãn cơn nghiện. Một cách nào đó ta có thể thấy bệnh nghiện ma túy, một khi đã xâm nhập, nó mau chóng trở nên “đại bàng”, nên “lãnh tụ”, nên đầu mối của mọi bệnh tật tâm hồn. Chính vì thế, ta thấy những CHIẾC RỄ chính của ma túy kể ra dưới đây hầu như bao hàm mọi tật xấu của một đời sống sa đọa.
1/ Không cảm thấy tình yêu thương trong gia đình: ít ý thức về công ơn cha mẹ. Đồng thời cũng thiếu những cảm nhận căn bản về giá trị cuộc sống: tình yêu, tình bạn tốt, hy sinh, phục vụ, trân trọng con người, niềm vui khi giúp đỡ người khác…
2/ Quen một lối sống vô trách nhiệm với gia đình; không nhận ra hoặc không biết làm cách nào để góp phần xây dựng chính gia đình của mình
3/ Thiếu lý tưởng, không mơ ước về tương lai, và thiếu quyết tâm hoặc không biết làm cách nào để thực hiện lý tưởng của mình.
4/ Thiếu bản lãnh trong giao tiếp; theo băng nhóm, sống dựa dẫm vào ý kiến của bạn bè; không có khả năng tỏ bày và chọn lập trường riêng khác với người khác.
5/ Thiếu đời sống đức tin, thiếu đời sống cầu nguyện, lơ là những giềng mối luân lý đời sống tôn giáo. Đồng thời đánh mất ý thức về luân thường: liêm chính, công bằng, chân thực…
6/ Thường ve vuốt những tình cảm cá nhân của mình; hay cảm thấy buồn và không biết làm gì cho qua ngày giờ trống vắng, không có khả năng chịu khổ; sống hời hợt, sống phù phiếm và chỉ tìm những thú vui chốc lát.
Chúng ta có thể thấy rằng nếu một thanh niên vẫn cảm thấy tình thương của cha mẹ, vẫn có trách nhiệm với gia đình, có đời sống luân lý tương đối tốt… thì chắc chắn sẽ khó rơi vào tình trạng nghiện ma túy hơn. Ngược lại, nếu một thanh niên đang muốn hoặc đã bắt đầu cai nghiện, nhưng lại vẫn còn giữ nguyên những “chiếc rễ” như trên, vẫn không có lý tưởng, không có trách nhiệm với gia đình, vẫn luôn cảm thấy buồn… thì hầu như chắc chắn sẽ rơi lại vào tình trạng nghiện ngập
Như thế, để có thể lấy cơn nghiện ra khỏi con nghiện, cần phải cắt đi tất cả những chiếc rễ nuôi dưỡng tình trạng nghiện ngập, “cô lập” tình trạng nghiện, rồi mới có thể bứng nó khỏi con nghiện. Đồng thời phải trồng những rễ mới để nuôi một nếp sống mới ( Những chiếc rễ mới chính là những gì ngược với những chiếc rễ nói trên: Cảm nhận được tình thương của gia đình; có trách nhiệm với những người chung quanh; có lý tưởng trong cuộc sống….)
Điều này phải trở nên như một sự thay đổi toàn bộ đời sống và là công việc lâu dài, cần phải hết sức kiên trì, nhẫn nại. Bình thường với một chiếc rễ thôi, ta cũng phải rỉ rã nhắc nhủ nhiều lần, soi sáng vấn đề, khuyến khích tạo điều kiện… mới có thể tạm cắt bỏ được. Nếu một người nghiện, chưa bỏ được ma túy, nhưng đã biết tỏ ra có trách nhiệm với gia đình, thì đã bớt một gốc rễ và có hy vọng hơn.
III.           Những nhân tố chính trong kế hoạch cai nghiện
1.     Gia đình
a.     Thái độ đối với người nghiện
Những thành viên trong gia đình cần phải hết sức thông cảm, kiên nhẫn, trợ giúp, và chấp nhận chịu khổ vì căn bệnh nghiện của người thân. Gia đình nào có người cha, người mẹ đã từng khóc vì thương con, thì gia đình ấy còn có hy vọng. Những gia đình nào mặc kệ con cái, hoặc chỉ biết trách móc, chửi rủa và “đuổi con đi cho khuất mắt” thì khó lắm!!!
Bình thường một người nghiện không dễ dàng bỏ hoàn toàn ngay tức khắc; gia đình cần phải sẵn sàng chấp nhận được những lần sa ngã lại; mà mỗi lần sa ngã lại như thế đều là những vố đau, luôn kèm theo những mất mát tiền bạc, uy tín, giờ giấc… Gia đình cần đón nhận những biến cố ấy trong thái độ nhẫn nại, yêu thương để giúp người nghiện chỗi dậy ngay, càng sớm càng tốt, và tiếp tục chương trình cai nghiện. Chính những lần chịu đựng trong sự nhẫn nại và yêu thương như thế sẽ giúp người nghiện cảm nhận được tình thương của những người thân, và đây là nguồn động lực rất lớn để họ tiếp tục phấn đấu. Nếu không người nghiện rơi hoàn toàn vào tình trạng cũ, càng lún sâu hơn vào cơn nghiện, rồi tình trạng còn tệ hại hơn và những lần sau lại càng khó khăn hơn.
b.     Duyệt lại bầu khí gia đình
Mặt khác, cần duyệt xét lại chính nếp sống gia đình. Rất nhiều khi, để thay đổi nếp sinh hoạt của người nghiện, chính gia đình cần thay đổi nếp sinh hoạt của mình trước đã:
+ Tạo bầu khí gia đình ấm cúng:
Gia đình cần tạo được bầu khí liên đới, dễ nói chuyện với nhau, có những quan tâm cụ thể đến sinh hoạt của nhau.
Trong nhà có nơi chốn dành cho việc trao đổi những câu chuyện thường ngày chẳng hạn cách thức xếp bàn ghế trong nhà.
Có những sinh hoạt gia đình, có liên đới trong một vài công việc chung; những bữa ăn chung; những buổi đi chơi chung; quan tâm đến những ngày giỗ, dịp sinh nhật của nhau, ngay thi cử hoặc dịp thi đậu của một thành viên…
+ Đời sống luân lý của bố mẹ hoặc những người lớn
Khi đời sống của chính bố mẹ đã là một gương mù lớn mà lại cứ la mắng con cái, “lên mặt” dạy dỗ thì chắc chắn sẽ gây nên một sự phản kháng hết sức nguy hiểm trong tâm hồn con cái.
Nếu cha mẹ có những lỗi lầm trong qua khứ hoặc chưa thay đổi được một số tật xấu nào đó, tốt nhất là phải nói chuyện thân tình, chia sẻ khó khăn chung và khuyến khích con cái vươn lên.
+ Cách thức cha mẹ và những người trong gia đình đối xử với nhau
Những trục trặc về tâm lý thường là do những mối tương quan không lành mạnh trong gia đình; điều này không dễ có gia đình nào né tránh được. Tuy nhiên, nhưng người có trách nhiệm trong gia đình cần phải nhận ra được điều gì có tác dụng chính yếu làm căng thẳng bầu khí gia đình, và ít nhất tỏ ra có thiện chí muốn thay đổi.
Nhiều khi con cái không được tín nhiệm trong gia đình, cảm thấy mình bị dư thừa..; cần phải cho thanh thiếu niên đảm nhận trách nhiệm đúng lứa tuổi cua mình.
Bố quá độc tài, áp đặt cách thức suy nghĩ của mình.
Mẹ nói quá nhiều…, hay chê con cái, và thường không chịu chấp nhận bất cứ chuyện gì khác ý mình, dù là chuyện nhỏ, hay nhiều khi không phải là chuyện đúng sai mà chỉ vì ý thức riêng tư mà thôi.
Tất cả những mối tương quan gây căng thẳng trong gia đình như: Con yêu con ghét, đứa này thì quá giỏi, được khen, đứa kia lại bị chê bai.
2.     Bản thân người cai nghiện
a.            Điều quan trọng nhất là người nghiện phải tỏ ra có thiện chí. Nếu người cai nghiện không có thiện chí muốn cai, không muốn thay đổi nếp sống thì không thể có phương cách nào, không có phương thuốc nào, không có sự trợ giúp nào có thể thay đổi được, cho dù là một sự kiểm soát kỹ lưỡng, xiềng xích hay cầm tù đi nữa.
b.            Người cai nghiện cũng cần khẳng định quyết tâm của mình; không thể thua cuộc, không thể đánh mất cuộc đời quý báu của mình và đánh mất cuộc sống hạnh phúc của những người thân yêu. Người nghiện phải luôn tin tưởng và liên đới với gia đình, với người đồng hành, chứ không được dối trá hay sợ hãi để rồi tự nghĩ rằng mình sẽ giải quyết một số khó khăn nào đó, khỏi làm phiền đến người khác…
c.             Sau hết, người cai nghiện cần phải coi việc cai nghiện như một “mặt trận” phải chiến đấu; tự mình lên kế hoạch, bàn bạc kế hoạch đó với gia đình và với người phụ giúp, và xoay sở bằng mọi cách để vượt lên từng giai đoạn một, chiến đấu với từng vấn đề một. Tốt nhất người cai nghiện nên có một cuốn nhật ký của mình, trong đó có thể ghi rõ kế hoạch cụ thể, nhận thức rõ từng khó khăn, theo dõi từng bước tiến, và tìm hay bàn bạc phương cách để giải quyết.
3.     Người đồng hành
a.       Bình thường hầu hết các gia đình đều có những giới hạn, khó khăn, khó khăn về tài chính, về thái độ một thành viên nào đó, về môi trường xung quanh… và những khó khăn đó luôn là nguy cơ làm cho tiến trình cai nghiện bị thất bại. Như thế, hết sức cần có một người đồng hành, liên đới chia sẻ những khó khăn.
b.       Người đồng hành cũng phải đảm nhận việc cung cấp một số bài học giúp người nghiện thay đổi một số nhận thức. Có thể dựa vào những gốc rễ nói trên để phác thảo những điều cần nói chuyện với các bạn nghiện như: Học biết yêu thương gia đình, biết sống có lý tưởng… Những bài học này nên khởi đầu bằng việc phân tích từ chính sai lạc, nguy hại, tính phá hủy của những tật xấu; rồi khơi dậy nhu cầu thay đổi lối sống. Đừng nên áp đặt những đòi hỏi luân lý như những khuôn mẫu cứng nhắc.
c.        Việc thay đổi một tật xấu bình thường là một việc hết sức khó khăn; không dễ gì giúp một thanh niên, không nghiện ma túy từ bỏ lối sống vô trách nhiệm với gia đình. Thế nhưng, theo kinh nghiệm của tôi, giúp một thanh niên nghiện ma túy từ bỏ những gốc rễ xấu của tâm hồn, chẳng hạn cách sống vô trách nhiệm, lại tương đối dễ hơn nhiều. Lý do là vì các con nghiện đã quá đau khổ và tủi nhục vì tình trạng nghiện ngập. Chính đây là nguồn hy vọng lớn cho việc giúp cai nghiện ma túy.
Ba nhân tố cần thiết để giúp chiến thắng bệnh nghiện ma túy đó là: bản thân người nghiện, gia đình, và người đồng hành. Cả ba nhân tố đều hết sức cần thiết. Hơn nữa trong lòng ba nhân tố ấy, mỗi yếu tố cũng đều cần thiết, vì chỉ cần một nguyên nhân nhỏ, bình thường cũng đủ để xô đẩy người cai nghiện rơi vào căn bệnh cũ.

Chúc thành công – Chúc thành công – Chúc thành công

Tư Cù, O.P
Chỉnh sửa bài viết Micae Trần Văn Thành