Trong truyện “Narzib und Goldmund” của Hesse kể về hai người bạn chân tình là Narzid và
Goldmund.[1]
Chàng tu sĩ Narzib tìm thấy lẽ sống và bản sắc của mình trong thế giới tinh thần
tự quy. Nhưng từ khi kết bạn với chàng lãng tử Goldmund, tính tự quy này bị
chao đảo. Làm bạn với Goldmund, Narzib trở thành một con người khác. Ở Goldmund
cũng vậy. Tự ý thức gắn chặt với thú vui trần thế, luôn đi ra khỏi chính mình
và sẵn sàng hiến dâng cho người khác. Tình bạn với Narzib làm cho sự đánh mất
mình một cách vô độ này cũng bị chao đảo. Nên rút cục, cả hai Narzib và Godmund
đều nhận ra chính mình nơi người bạn của mình, họ thực hiện điều Hegel đã đòi hỏi:
“ Họ thừa nhận nhau như đang là thừa nhận lẫn nhau”. Thật vậy, theo Hegel con
người là dục vọng. Nói cách khác, con người là khát vọng. Hegel đã có công chỉ
ra được cái âm tính của chủ thể.
I.
Chủ thể là tinh thần
1. Ý thức tự quy
Cái Tôi của Descartes là cái tôi của sự vật có tư duy, chiều
hướng của cái tôi biến mất, còn Kant cho rằng cái Tôi chỉ là ý thức thôi, cái
Tôi chỉ là hình bóng chỉ có thể đi kèm với các biểu tượng khác. Hegel đi một bước
xa hơn nữa, ông cho rằng cái Tôi đó là khát vọng. Hegel nói ý thức tự quy nơi
con người là khát vọng, mà khát vọng đó bắt nguồn từ con thú, làm sao đề ham muốn
con thú này nó nhô lên thành ham muốn cùa con người.
Vậy, ý thức tự quy hay tự ý thức là gì ? Theo từ nghĩa, tự ý
thức là biết về chính mình, là ý thức về mình. Nhưng nếu vậy thôi thì đó chỉ mới
là sự lặp thừa bất động: “Tôi là tôi”. Tự ý thức còn là cái gì nhiều hơn thế:
Nó là ý thức về ý thức về đối tượng; hay dễ hiểu hơn: tôi biết
về điều mình biết về đối tượng.
Eugen Fink (1977: 161) cho ta một định nghĩa rất rõ: trong
cái biết của tự ý thức, cái Tôi đứng đối diện cái với được biết. Có nghĩa là,
cái Tôi không đối diện với đối tượng nữa như trong giai đoạn cảm tính mà với đối
tượng đã được biết. Qua đó, cái tôi không chỉ tự quan hệ với chính mình: cái
Tôi = Tôi đã được mở rộng: nó nhận biết chính mình trong sự nhận biết về cái xa
lạ, hay nói theo kiểu Hegel, nó đến với chính mình từ một cái tồn tại ở bên
ngoài mình.[2]
Một ví dụ đơn giản: nhà vật lý thiên văn nghiên cứu “hiện tượng”
những lỗ đen trong vũ trụ và phát triển một lý thuyết X hay Y nào đó. Trong sự
nghiên cứu này, cái biết của nhà khoa học không phải là mối quan hệ giữa nhà
khoa học và những lỗ đen mà là giữa nhà khoa học với lý thuyết X hay Y. Cái biết
của nhà thiên văn quan hệ với cái biết về những lỗ đen nghĩa là cái biết quan hệ
với chính nó. Như vậy, tự ý thức không còn làm việc với cái xa lạ nữa mà với
chính mình ở trong cái biết của mình.
Ralf Ludwig (1997:
77) cũng cho ví dụ: Giữa cái biết đơn giản của tôi về cơn đói và cái biết về
cái biết này rõ ràng có một sự nâng cao rõ rệt về cái biết: một sự ăn kiêng chỉ
có ý nghĩa khi nó không liên hệ đến cơn đói mà đến cái biết về cơn đói. Với cái
biết này, con người có thể ăn kiêng, nhưng con vật sẽ chết đói bởi nó không biết
về cái biết này.
Thêm vào đó, một điểm hết sức quan trọng của triết lý Hegel
khi nói về ý thức tự quy đó là thoát khỏi chủ nghĩa độc tôn chủ thể
(solipsisme), Descartes không thể đến được với tha nhân, cũng như Kant chỉ tìm
gặp tha nhân bằng sự kính trọng nhưng chưa có sự tương quan giữa hai chủ thể.
Trong khi đó, ý thức tự quy nơi Hegel đòi hỏi phải có ít nhất là hai khát vọng.
Hegel đã thiết lập mối tương quan giữa hai chủ thể.
2. Sự ham muốn (Begierde): mặt thực hành của tự
ý thức
Con người là ham muốn một ham muốn khác. Trước đây, tự ý thức
đã trải qua những kinh nghiệm với đối tượng, bây giờ tự ý thức cũng sẽ nếm trải
kinh nghiệm nhưng với chính mình để biết mình là gì. Nói cách khác, nó phải tự
biểu hiện ra, phải tự đối tượng hóa. Để làm điều này nó phải “muốn” trước đã.
“Muốn”, “ham muốn” là cơ sở cho mọi quan hệ thực hành, và Hegel gọi đó là sự
ham muốn (Begeierde).
Sự ham muốn thể hiện rất đa dạng, ở nhiều lãnh vực khác
nhau. Ở cấp độ hiện nay sự ham muốn ít nhất thể hiện ở ba mặt: Trước hết, ở
bình diện sinh vật sự ham muốn nhắm đến những gì cần thiêt trực tiếp để duy trì
sự sống: trong việc “tiêu thụ” đối tượng được ham muốn, cái tồn tại khác của đối
tượng bị thủ tiêu, rồi lại nảy sinh đối tượng và sự ham muốn mới. Tuy nhiên,
con người không chỉ cần ăn mà còn nhiều sự vật khác, nhiều mối quan hệ với hiện
thực bên ngoài: tôi phải “phủ định” cái khác để có thể sử dụng nó cho tôi. Chẳng
hạn phải thủ tiêu sự tồn tại của củi, dầu để có lửa và hơi nóng.
Ngoài ra, còn sự ham muốn hiểu biết nữa, đây cũng là một động
lực trong sự đào luyện con người.
Cái ham muốn mà chúng ta muốn trình bày trong đề tài ở đây lại
nhằm đến ham muốn được người khác công nhận “ Tự ý thức chỉ đạt được sự thỏa mãn trong một tự ý thức khác” hay chủ
thể là tinh thần mà tinh thần ở đây là khát vọng.
II.
Khát
vọng muốn được công nhận
1. Biện chứng pháp chủ nô
1.1 Con đường đấu
tranh để được công nhận về phía ông Chủ
Tự ý thức phải thể hiện như là sự phủ định đối với cái gì
mang tính khách quan và tính cá biệt. Yêu cầu này mang hình thức của sự mong muốn
cái chết của cái khác bằng cách sẵn sàng từ bỏ mạng sống của chính mình. Tự ý
thức phải sẵn sàng muốn hy sinh mọi sự vật cụ thể cho lòng tự trọng vô tận của
chính mình và để có được sự tôn trọng tương tự của mọi cái khác. Vì thế một cuộc
đấu tranh mất còn diễn ra giữa hai tự ý thức đang đối nhau.
Chủ là người liều mạng dám mất mạng sống của mình. Chủ coi ý
nghĩa của sự sống cao hơn sự sống. Là người có công đầu trong việc khai mào lịch
sử. Nói cách khác, là người lồng vào sự sống đơn thuần một ý tưởng.
Chủ và Nô hai bên đều truy nhận nhau, chủ coi nô là nô và nô
nhận chủ là chủ.
Tự ý thức của Chủ thiết yếu quan hệ với sự tồn tại của những
sự vật đơn thuần mà Chủ sử dụng thông qua tự ý thức của Nô. Nô phải làm việc
cho sự hưởng thụ của Chủ. Mặt khác tự ý thức của Chủ dùng mọi công cụ thưởng phạt,
cưỡng chế để khuất phục Nô. Nô lao động với sự vật, nhưng không hoàn toàn lược
bỏ được vật tính của chúng, bởi sự vật không trở thành những gì mà Nô mong muốn,
hay không tồn tạ cho Nô. Còn Chủ thì bòn rút và hưởng thụ từ lao động của Nô.
Nhưng, ở đây bắt đầu xuất hiện hai yếu tố mới do chỉ thuần túy hưởng thụ nên Chủ
chỉ quan hệ với phương diện không độc lập tự chủ của sự vật, và nhường phương
diện ấy cho Nô, kẻ đang lao động với sự vật.[3]
Dầu vậy, Chủ không thỏa mãn vì mình được công nhận bởi một kẻ
thấp hơn mình. Nói cách khác, Chủ không thể đạt được sự thừa nhận qua lại mà tự
ý thức của Chủ đòi hỏi từ một tự ý thức bị hạ thấp giá trị và bị khuất phục.
Cùng với đó, lối sống của ông chủ là không thỏa mãn, vì ông Chủ phải dựa vào những
đồ vật của người nô lệ. Kinh nghiệm của ông Chủ về thời gian là những chốc lát,
thoáng qua. Khoái lạc không lưu lại, không vững bền, nó xuất hiện rồi nó biến mất.
Do đó, kinh nghiệm về thời gian của ông chủ không được thỏa mãn, ông chủ chạy từ
cái này sang cái khác để trốn tránh sự chán nản.
1.2 Về phía Nô
Trái lại về phía người nô lệ, sự sống là căn bản cho mọi sự.
Cái sự sống mà ông chủ cho là vô nghĩa. Nô quý mạng sống, vì ý thức được rằng
không có sự sống thì không thể xây dựng được gì cả. Kinh nghiệm thứ hai là nỗi
sợ xâm chiếm hết thớ thịt của con người khi trực diện với sự chết. Nó làm cho
những gì là mạch lạc trong đời sống của tôi tiêu tan hết, trực diện với ông chủ
tuyệt đối là cái chết. Khi được tha mạng thì mình không cón là chủ thể nữa mà tất
cả ý muốn của mình ở nơi ngươi khác và do đó phải vâng lời và phải lao động, lao
động chủ yếu cho kẻ khác. Lao động là khổ sai.
Do kinh sợ và hãi hùng tuyệt đối trước ông Chủ nên Nô được
thức tỉnh khỏi mọi sự đồng nhất hóa chật hẹp và lợi ích tự kỷ của mình, và được
nâng lên thành tính phủ định thuần túy, thành tính phổ biến, vượt bỏ sự phụ thuộc,
gắn liền với cái hiện hữu tự nhiên, và mới mang được đặc điểm của tự ý thức
đích thực.[4]
Thêm vào đó, nhờ kinh nghiệm lao động, Nô biết rằng mình có
khả năng biến đổi thiên nhiên theo chiều hướng mình muốn. Lao động là một hình
thức sáng tạo.
Nô lại có thuận lợi và ưu thế: khi lao động với sự vật, Nô
biến đối tượng thành cái trường tồn, làm cho sự vật bên ngoài thành cái của
mình và đặt chính mình vào trong đó, trong khi quan hệ của Chủ với sự vật chỉ kết
thúc ở sự hưởng thụ chóng qua. Nô vượt qua được cái tồn tại khác và cái hiện hữu
đơn thuần của “vật tính” một cách trọn vẹn hơn Chủ, và do đó đạt được một tự ý
thức đích thực hơn.[5]
Trong lao động, tức kiến tạo hình thể cho sự vật một cách
sáng tạo, Nô trở nên ý thức về sự tồn tại tự mình và cho mình. Ngoài ra, chính
kỷ luật trong phục vụ và sự vâng lời cũng là thiết yếu đối với tự ý thức: Sự
làm chủ đơn thuần đối với sự vật không đủ để đạt được điều này. Chỉ có kỷ luật
của sự phục vụ mới làm cho cái tồn tại tự giác thực sự làm chủ chính mình, tức
làm chủ cái tự ngã hữu tận, bất tất và tự nhiên của mình. Không có kỷ luật thì
năng lực kiến tạo ắt sẽ suy thoái thành “tài khéo”, “khôn vặt”, nhằm phục vụ ý
chí riêng, chủ quan, chật hẹp, chứ không phải là hành động kiến tạo phổ biến,
không thể làm chủ đối với sức mạnh phổ biến cũng như trên toàn bộ thực tại
khách quan.[6]
Biện chứng pháp trên đây có thể phiền toái hơn, vì con người
không phải chỉ đương đầu với nhau trong phạm vi hạn hẹp thân thể của mỗi người,
mà còn đem theo vào cuộc tranh đấu không những các đồ vật sở hữu của mình mà còn
cả những người thân thuộc, cả dân tộc của mình nữa.
Sức mạnh của một người không phải chỉ ở nơi bắp thịt mà còn ở
tài sản, và ở nơi đoàn thể của mình nữa. Một đứa trẻ có thể mạnh hơn một lực sĩ
vì nó có súng. Một người tầm thường yếu ớt có thể dám chửi bới một người khỏe mạnh
có khí giới, chỉ vì biết mình là thành phần của đoàn thể có tổ chức.
Cái sợ là một yếu tố quan trọng trong tương quan giữa người
với người. Trong mỗi đoàn thể, trong mỗi xã hội, lại có thể có sự tranh đấu để
dành lấy địa vị lãnh đạo, để sử dụng xã hội lấy lợi cho mình, dĩ nhiên là dưới
danh nghĩa bảo vệ và phụng sự đoàn thể. Ý thức hệ sẽ được đưa ra để biện chính
cho tham vọng cá nhân. Dối mình thì khó mà dối người thì dễ, và cái hư hư thực
thực của ý thức hệ làm cho nó thành một yếu tố căn bản trong đời sống xã hội.
Đoàn thể là sức mạnh của ta, đồng thời là sức mạnh đè bẹp
ta. Chưa hết, đoàn thể cũng như tài sản, còn là cái làm cho ta mất sức mạnh.
Vì sao thế ? Tranh đấu đòi phải liều lĩnh. Do đó, càng có
nhiều của cải, càng trách nhiệm nhiều về đoàn thể thì càng không dám liều.
Trong các cuộc thử sức, những người có tiền của có địa vị trong xã hội thường
ít khi dám liều. Họ sẵn sàng chịu thua, chịu nhượng bộ để sống và để hưởng giàu
sang; họ rất dễ phản bội, nhất là khi có ý lợi dụng đoàn thể. Chỉ những người
không có gì phải sợ mất mới dễ liều, mới dễ phiêu lưu.
Xã hội loài người đã và đang sống trong sự phân chia giai cấp
như thế. Những người yếu, những dân tộc kém mở mang, những đoàn thể thiểu số,
thường bị bắt vào giai cấp dưới. Ý thức hệ mọc ra nhan nhản để biện chính cho sự
chênh lệch đó. Có kẻ cho rằng nô lệ là một loại người hèn kém vì bản tính như
thế.
Giai cấp trên ý thức được mình vượt lên trên vật chất. Do
đó, họ thường có tư tưởng duy trí. Họ làm chủ người khác chứ không tự chủ. Trái
lại, giai cấp dưới ý thức được rằng mình là vật chất, mất đời sống sinh lý tức
là mất hết. Tư tưởng của họ thường là duy vật. Họ không làm chủ người khác,
nhưng làm chủ vật giới và làm chủ bản thân. Do đó họ ý thức được giá trị của
lao động, giá trị của thời gian và cho rằng thực chất của đời người là lao động.
Khi giai cấp chủ thắng thế thì giá trị con người là ở chỗ tư tưởng. Khi giai cấp
dưới đã làm chủ được thiên giới, thì ưu thế về phần họ: giá trị con người là ở
lao động. Ở trong xã hội kém mở mang về kỹ thuật, giai cấp dưới bị yếu thế.
Mộ xã hội xây dựng theo tổ chức xã hội lý, không dừng lại ở
việc phân chia giai cấp và phân chia ý thức như thế. Người Nô lệ bắt đầu ý thức
được rằng mình là vật chất, đến chỗ ý thức rằng mình là chủ thể. Giữa ý thức về
tự do và tình trạng nô lệ có sự mâu thuẫn. Lịch sử xã hội nhằm tiêu diệt cái
mâu thuân đó. Xã hội sẽ gồm những người bình đẳng, tư tưởng người ta sẽ không còn phải là duy tâm hay duy vật,
nhưng người ta sẽ ý thức về mình như là một chủ thể tại thế.
III.
Con
đường đến với tha nhân
1. Quan điểm
của Jean Paul Sartre về vấn đề nhìn nhận tha nhân.
Sartre từng đưa ra nhận định “Đối với ý thức tôi, tha nhân chỉ hiện hữu như một bản ngã bị từ chối.
Nhưng tha nhân cũng chính là một bản ngã, nên tha nhân chỉ bị tôi chối cho tôi,
xét như tha nhân là một bản ngã đang chối tôi. Chối, chối và chối: anh bị từ chối,
tôi chối anh vì anh chôi tôi”.[8]
Một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng Jean Paul Sartre ảnh
hưởng một phần nào đó của tư tưởng Hegel. Con đường đến với tha nhân là con đường
đấu tranh. Thành thử, Sartre rất khó để công nhận tha nhân như là một chủ thể
ngang hàng với mình. Ngay cả trong chuyện tình yêu Sartre cũng có những quan niệm
đặc sắc về tình yêu: Trước hết, tôi phải liệu chiếm được chủ thể tính của tha
nhân nghĩa là liệu sao đừng biến tha nhân thành sự vật; thứ đến, muốn giữ
nguyên chủ thể tính của tha nhân, chính tôi lại cần coi mình như một vật bị
nhìn. Tóm lại, tôi hoàn toàn coi mình là sự vật bị nhìn, có thế mới giữ được sự
tự do ngó nhìn của tha nhân chủ thể. Dự phóng thông cảm với tha nhân là một dự
phóng phi lý và không thể thự hiện được.
2. Gabriel
Marcel và con đường gặp gỡ tha nhân.
Theo Marcel hai chủ thể có thể gặp gỡ nhau khi hai người
cùng kính trọng như những nhân vị đầy đủ chủ quyền và đầy đủ khôn ngoan.
Marcel cho biết theo kinh nghiệm của ông, mối tương đồng này
rất ít thấy trong xã hội loài người. Người ta đưa ra những danh từ rất kêu như đồng
bào, bình đẳng, đề cao nhân vị, nhân quyền. Tuy nhiên, thực mỗi người chỉ biết
có mình thôi. Chỉ có tôi là nhân vị, chỉ mình tôi là chủ thể. Vì thế, khi người
ta nói chuyện và bàn tính công việc với nhau, người trên thường lấy giọng phán
truyền và người dưới biết ngay có đưa ra những ý kiến hay, cũng không được chấp
nhận. Như vậy làm sao có đối thoại và gặ gỡ được. Điều này đúng cho tất cả mọi
giao tiếp giữi người với người, giao tiếp chính trị, giao tiếp xã hội và giao
tiếp gia đình. Trong tất cả mọi giao tiếp, gặp gỡ là điều kiện để có nhân đạo,
và là điều kiện để thêm phong phú cho con người.[9]
3. Ái
tình
Thái độ người ta trong tình yêu khác với thái độ trong một
xã hội mà các chủ thể tranh đấu nhau để được công nhận.
Nếu trước đây ta ý thức về, người khác, xét là người khác ta
thì ở đây ta nhận ra người khác giới. Khác, nhưng lại bổ túc cho ta. Trong xã hội
lý, ta bắt đầu từ chỗ tự tôn làm chủ và tìm cách khuất phục người khác, để rồi
bó buộc nhìn nhận nhau như là những chủ thể bình đẳng. Trái lại, ở đây thì
khác, ta không tìm cách đặt mình làm chủ người khác, coi người khác là phụ thuộc
vào mình. Do đó, ta không đe dọa sinh mạng người khác và người khác và người
khác cũng không đe dọa sinh mạng ta, vì chúng ta không tìm cách khuất phục
nhau, nhưng là chúng ta tìm cách bảo đảm sinh mạng cho nhau và giúp đỡ nhau
thăng tiến. Chúng ta nhìn nhận nhau ngay từ đầu. Anh yêu em dù em có thế nào
trong mắt của anh em là tuyệt vời nhất.
Lúc này, liên lạc giữa người với nhau là liên lạc tự do, có
những kiểu cách tế nhị. Trong khi tranh đấu để làm chủ vật giới và làm chủ người
khác, ta không cần phải hỏi ý kiến xem vật giới và người khác có đồng ý với
thái độ của ta hay không. Ngược lại, trong tình yêu người ta phải có sự ưng thuận
của người kia mới được.
Kết quả không phải đánh nhau chí tử, mà là hợp nhất với nhau
một cách sâu xa. Ở đây người ta gặp gỡ nhau trên tất cả bình diện có thể hiện
thân được. Không những gặp nhau như là những công dân bình đẳng trong một định
chế xã hội mà còn gặp nhau nơi thân thể là chỗ hiện thân căn bản. Hai người nam
nữ có thể gặp nhau mật thiết đến nỗi vận mệnh hai người gắn liền với nhau.
Tất cả những xích mích chưa giải quyết được trong xã hội lý
đều có thể thu xếp ổn thỏa ở đây. Vì trong tình yêu những ý niệm như quyền lợi
đều mất ý nghĩa.
IV.
Kết luận
Con đường đến với tha nhân theo Hegel là con đường đấu tranh
để được người khác công nhận. Trái lại, con đường của Kitô giáo là con đường
tìm gặp nhau trong yêu thương. Sở dĩ, Hegel không chọn con đường này vì ở nơi nẻo
đường này đòi hỏi một thái độ Metanoia nghĩa là đảo ngược. Sự đảo ngược này được
thể hiện rõ nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Ngài vì yêu thương nhân loại đã
hy sinh mạng sống, hay nói cách khác là liều mất mạng sống để cứu độ nhân loại.
Thông thường chúng ta giận ai, căm thù ai, chúng ta thường trút những căm thù
và bạo lực lên người khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu thay vì nổi loạn, Ngài đã ôm lấy
tất cả những thù hận, hứng chịu tất cả bạo lực của người khác vào nơi mình.
Ngài là con người lịch sử và có công đầu khai mào lịch sử.
Tài liệu tham khảo.
1.
G. Hegel, Hiện
tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải
2.
Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008
3.
Trần Văn Toàn, Hành trình đi vào Triết học, NXB Tri thức, 2012
4.
Trần Thái Đỉnh , Biện chứng pháp là gì, Ca dao, không rõ năm xuất bản
5.
Trần Thái Đỉnh, Triết học Descartes, NXB Văn học, 2005
6.
Trần Thái Đỉnh, Triết học Kant,Văn mới, 1974
7.
Nguyễn Trọng Viễn, Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin Công giáo tại Việt Nam,
Chân lý, 2003
[1]
Xem: H. Hesse: “ Narzib und Goldmund”; bản tiếng Việt: “Đôi bạn chân tình”, Vũ
Đình Hựu dịch, NXB Ca dao, không nhớ năm.
[2]
G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB
Văn học, 2006.
[3] Trần
Thái Đỉnh, Biện chứng pháp là gì?, Ca dao, không rõ năm xuất bản, tr. 96
[4] G.W.F.
Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học,
2006, tr.458.
[5] G.W.F.
Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học,
2006, tr.459.
[6] G.W.F.
Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học,
2006, tr.459.
[7] Trần
Văn Toàn, Hành trình đi vào con đường Triết học, NXB Tri thức, 2012, tr. 80
[8] Trần
Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008, tr. 335.
[9] Trần
Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008, tr. 289.