Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Con người là khát vọng

Trong truyện “Narzib und Goldmund” của Hesse  kể về hai người bạn chân tình là Narzid và Goldmund.[1] Chàng tu sĩ Narzib tìm thấy lẽ sống và bản sắc của mình trong thế giới tinh thần tự quy. Nhưng từ khi kết bạn với chàng lãng tử Goldmund, tính tự quy này bị chao đảo. Làm bạn với Goldmund, Narzib trở thành một con người khác. Ở Goldmund cũng vậy. Tự ý thức gắn chặt với thú vui trần thế, luôn đi ra khỏi chính mình và sẵn sàng hiến dâng cho người khác. Tình bạn với Narzib làm cho sự đánh mất mình một cách vô độ này cũng bị chao đảo. Nên rút cục, cả hai Narzib và Godmund đều nhận ra chính mình nơi người bạn của mình, họ thực hiện điều Hegel đã đòi hỏi: “ Họ thừa nhận nhau như đang là thừa nhận lẫn nhau”. Thật vậy, theo Hegel con người là dục vọng. Nói cách khác, con người là khát vọng. Hegel đã có công chỉ ra được cái âm tính của chủ thể.
I.                     Chủ thể là tinh thần
1.       Ý thức tự quy
Cái Tôi của Descartes là cái tôi của sự vật có tư duy, chiều hướng của cái tôi biến mất, còn Kant cho rằng cái Tôi chỉ là ý thức thôi, cái Tôi chỉ là hình bóng chỉ có thể đi kèm với các biểu tượng khác. Hegel đi một bước xa hơn nữa, ông cho rằng cái Tôi đó là khát vọng. Hegel nói ý thức tự quy nơi con người là khát vọng, mà khát vọng đó bắt nguồn từ con thú, làm sao đề ham muốn con thú này nó nhô lên thành ham muốn cùa con người.
Vậy, ý thức tự quy hay tự ý thức là gì ? Theo từ nghĩa, tự ý thức là biết về chính mình, là ý thức về mình. Nhưng nếu vậy thôi thì đó chỉ mới là sự lặp thừa bất động: “Tôi là tôi”. Tự ý thức còn là cái gì nhiều hơn thế: Nó là ý thức về ý thức về đối tượng; hay dễ hiểu hơn: tôi biết về điều mình biết về đối tượng.
Eugen Fink (1977: 161) cho ta một định nghĩa rất rõ: trong cái biết của tự ý thức, cái Tôi đứng đối diện cái với được biết. Có nghĩa là, cái Tôi không đối diện với đối tượng nữa như trong giai đoạn cảm tính mà với đối tượng đã được biết. Qua đó, cái tôi không chỉ tự quan hệ với chính mình: cái Tôi = Tôi đã được mở rộng: nó nhận biết chính mình trong sự nhận biết về cái xa lạ, hay nói theo kiểu Hegel, nó đến với chính mình từ một cái tồn tại ở bên ngoài mình.[2]
Một ví dụ đơn giản: nhà vật lý thiên văn nghiên cứu “hiện tượng” những lỗ đen trong vũ trụ và phát triển một lý thuyết X hay Y nào đó. Trong sự nghiên cứu này, cái biết của nhà khoa học không phải là mối quan hệ giữa nhà khoa học và những lỗ đen mà là giữa nhà khoa học với lý thuyết X hay Y. Cái biết của nhà thiên văn quan hệ với cái biết về những lỗ đen nghĩa là cái biết quan hệ với chính nó. Như vậy, tự ý thức không còn làm việc với cái xa lạ nữa mà với chính mình ở trong cái biết của mình.
 Ralf Ludwig (1997: 77) cũng cho ví dụ: Giữa cái biết đơn giản của tôi về cơn đói và cái biết về cái biết này rõ ràng có một sự nâng cao rõ rệt về cái biết: một sự ăn kiêng chỉ có ý nghĩa khi nó không liên hệ đến cơn đói mà đến cái biết về cơn đói. Với cái biết này, con người có thể ăn kiêng, nhưng con vật sẽ chết đói bởi nó không biết về cái biết này.
Thêm vào đó, một điểm hết sức quan trọng của triết lý Hegel khi nói về ý thức tự quy đó là thoát khỏi chủ nghĩa độc tôn chủ thể (solipsisme), Descartes không thể đến được với tha nhân, cũng như Kant chỉ tìm gặp tha nhân bằng sự kính trọng nhưng chưa có sự tương quan giữa hai chủ thể. Trong khi đó, ý thức tự quy nơi Hegel đòi hỏi phải có ít nhất là hai khát vọng. Hegel đã thiết lập mối tương quan giữa hai chủ thể.
2.       Sự ham muốn (Begierde): mặt thực hành của tự ý thức
Con người là ham muốn một ham muốn khác. Trước đây, tự ý thức đã trải qua những kinh nghiệm với đối tượng, bây giờ tự ý thức cũng sẽ nếm trải kinh nghiệm nhưng với chính mình để biết mình là gì. Nói cách khác, nó phải tự biểu hiện ra, phải tự đối tượng hóa. Để làm điều này nó phải “muốn” trước đã. “Muốn”, “ham muốn” là cơ sở cho mọi quan hệ thực hành, và Hegel gọi đó là sự ham muốn (Begeierde).
Sự ham muốn thể hiện rất đa dạng, ở nhiều lãnh vực khác nhau. Ở cấp độ hiện nay sự ham muốn ít nhất thể hiện ở ba mặt: Trước hết, ở bình diện sinh vật sự ham muốn nhắm đến những gì cần thiêt trực tiếp để duy trì sự sống: trong việc “tiêu thụ” đối tượng được ham muốn, cái tồn tại khác của đối tượng bị thủ tiêu, rồi lại nảy sinh đối tượng và sự ham muốn mới. Tuy nhiên, con người không chỉ cần ăn mà còn nhiều sự vật khác, nhiều mối quan hệ với hiện thực bên ngoài: tôi phải “phủ định” cái khác để có thể sử dụng nó cho tôi. Chẳng hạn phải thủ tiêu sự tồn tại của củi, dầu để có lửa và hơi nóng.
Ngoài ra, còn sự ham muốn hiểu biết nữa, đây cũng là một động lực trong sự đào luyện con người.
Cái ham muốn mà chúng ta muốn trình bày trong đề tài ở đây lại nhằm đến ham muốn được người khác công nhận “ Tự ý thức chỉ đạt được sự thỏa mãn trong một tự ý thức khác” hay chủ thể là tinh thần mà tinh thần ở đây là khát vọng.
II.                  Khát vọng muốn được công nhận
1.       Biện chứng pháp chủ nô
1.1 Con đường đấu tranh để được công nhận về phía ông Chủ
Tự ý thức phải thể hiện như là sự phủ định đối với cái gì mang tính khách quan và tính cá biệt. Yêu cầu này mang hình thức của sự mong muốn cái chết của cái khác bằng cách sẵn sàng từ bỏ mạng sống của chính mình. Tự ý thức phải sẵn sàng muốn hy sinh mọi sự vật cụ thể cho lòng tự trọng vô tận của chính mình và để có được sự tôn trọng tương tự của mọi cái khác. Vì thế một cuộc đấu tranh mất còn diễn ra giữa hai tự ý thức đang đối nhau.
Chủ là người liều mạng dám mất mạng sống của mình. Chủ coi ý nghĩa của sự sống cao hơn sự sống. Là người có công đầu trong việc khai mào lịch sử. Nói cách khác, là người lồng vào sự sống đơn thuần một ý tưởng.
Chủ và Nô hai bên đều truy nhận nhau, chủ coi nô là nô và nô nhận chủ là chủ.
Tự ý thức của Chủ thiết yếu quan hệ với sự tồn tại của những sự vật đơn thuần mà Chủ sử dụng thông qua tự ý thức của Nô. Nô phải làm việc cho sự hưởng thụ của Chủ. Mặt khác tự ý thức của Chủ dùng mọi công cụ thưởng phạt, cưỡng chế để khuất phục Nô. Nô lao động với sự vật, nhưng không hoàn toàn lược bỏ được vật tính của chúng, bởi sự vật không trở thành những gì mà Nô mong muốn, hay không tồn tạ cho Nô. Còn Chủ thì bòn rút và hưởng thụ từ lao động của Nô. Nhưng, ở đây bắt đầu xuất hiện hai yếu tố mới do chỉ thuần túy hưởng thụ nên Chủ chỉ quan hệ với phương diện không độc lập tự chủ của sự vật, và nhường phương diện ấy cho Nô, kẻ đang lao động với sự vật.[3]
Dầu vậy, Chủ không thỏa mãn vì mình được công nhận bởi một kẻ thấp hơn mình. Nói cách khác, Chủ không thể đạt được sự thừa nhận qua lại mà tự ý thức của Chủ đòi hỏi từ một tự ý thức bị hạ thấp giá trị và bị khuất phục. Cùng với đó, lối sống của ông chủ là không thỏa mãn, vì ông Chủ phải dựa vào những đồ vật của người nô lệ. Kinh nghiệm của ông Chủ về thời gian là những chốc lát, thoáng qua. Khoái lạc không lưu lại, không vững bền, nó xuất hiện rồi nó biến mất. Do đó, kinh nghiệm về thời gian của ông chủ không được thỏa mãn, ông chủ chạy từ cái này sang cái khác để trốn tránh sự chán nản.
1.2   Về phía Nô
Trái lại về phía người nô lệ, sự sống là căn bản cho mọi sự. Cái sự sống mà ông chủ cho là vô nghĩa. Nô quý mạng sống, vì ý thức được rằng không có sự sống thì không thể xây dựng được gì cả. Kinh nghiệm thứ hai là nỗi sợ xâm chiếm hết thớ thịt của con người khi trực diện với sự chết. Nó làm cho những gì là mạch lạc trong đời sống của tôi tiêu tan hết, trực diện với ông chủ tuyệt đối là cái chết. Khi được tha mạng thì mình không cón là chủ thể nữa mà tất cả ý muốn của mình ở nơi ngươi khác và do đó phải vâng lời và phải lao động, lao động chủ yếu cho kẻ khác. Lao động là khổ sai.
Do kinh sợ và hãi hùng tuyệt đối trước ông Chủ nên Nô được thức tỉnh khỏi mọi sự đồng nhất hóa chật hẹp và lợi ích tự kỷ của mình, và được nâng lên thành tính phủ định thuần túy, thành tính phổ biến, vượt bỏ sự phụ thuộc, gắn liền với cái hiện hữu tự nhiên, và mới mang được đặc điểm của tự ý thức đích thực.[4]
Thêm vào đó, nhờ kinh nghiệm lao động, Nô biết rằng mình có khả năng biến đổi thiên nhiên theo chiều hướng mình muốn. Lao động là một hình thức sáng tạo.
Nô lại có thuận lợi và ưu thế: khi lao động với sự vật, Nô biến đối tượng thành cái trường tồn, làm cho sự vật bên ngoài thành cái của mình và đặt chính mình vào trong đó, trong khi quan hệ của Chủ với sự vật chỉ kết thúc ở sự hưởng thụ chóng qua. Nô vượt qua được cái tồn tại khác và cái hiện hữu đơn thuần của “vật tính” một cách trọn vẹn hơn Chủ, và do đó đạt được một tự ý thức đích thực hơn.[5]
Trong lao động, tức kiến tạo hình thể cho sự vật một cách sáng tạo, Nô trở nên ý thức về sự tồn tại tự mình và cho mình. Ngoài ra, chính kỷ luật trong phục vụ và sự vâng lời cũng là thiết yếu đối với tự ý thức: Sự làm chủ đơn thuần đối với sự vật không đủ để đạt được điều này. Chỉ có kỷ luật của sự phục vụ mới làm cho cái tồn tại tự giác thực sự làm chủ chính mình, tức làm chủ cái tự ngã hữu tận, bất tất và tự nhiên của mình. Không có kỷ luật thì năng lực kiến tạo ắt sẽ suy thoái thành “tài khéo”, “khôn vặt”, nhằm phục vụ ý chí riêng, chủ quan, chật hẹp, chứ không phải là hành động kiến tạo phổ biến, không thể làm chủ đối với sức mạnh phổ biến cũng như trên toàn bộ thực tại khách quan.[6]

1.3   Nhận xét về biện chứng pháp chủ nô[7]
Biện chứng pháp trên đây có thể phiền toái hơn, vì con người không phải chỉ đương đầu với nhau trong phạm vi hạn hẹp thân thể của mỗi người, mà còn đem theo vào cuộc tranh đấu không những các đồ vật sở hữu của mình mà còn cả những người thân thuộc, cả dân tộc của mình nữa.
Sức mạnh của một người không phải chỉ ở nơi bắp thịt mà còn ở tài sản, và ở nơi đoàn thể của mình nữa. Một đứa trẻ có thể mạnh hơn một lực sĩ vì nó có súng. Một người tầm thường yếu ớt có thể dám chửi bới một người khỏe mạnh có khí giới, chỉ vì biết mình là thành phần của đoàn thể có tổ chức.
Cái sợ là một yếu tố quan trọng trong tương quan giữa người với người. Trong mỗi đoàn thể, trong mỗi xã hội, lại có thể có sự tranh đấu để dành lấy địa vị lãnh đạo, để sử dụng xã hội lấy lợi cho mình, dĩ nhiên là dưới danh nghĩa bảo vệ và phụng sự đoàn thể. Ý thức hệ sẽ được đưa ra để biện chính cho tham vọng cá nhân. Dối mình thì khó mà dối người thì dễ, và cái hư hư thực thực của ý thức hệ làm cho nó thành một yếu tố căn bản trong đời sống xã hội.
Đoàn thể là sức mạnh của ta, đồng thời là sức mạnh đè bẹp ta. Chưa hết, đoàn thể cũng như tài sản, còn là cái làm cho ta mất sức mạnh.
Vì sao thế ? Tranh đấu đòi phải liều lĩnh. Do đó, càng có nhiều của cải, càng trách nhiệm nhiều về đoàn thể thì càng không dám liều. Trong các cuộc thử sức, những người có tiền của có địa vị trong xã hội thường ít khi dám liều. Họ sẵn sàng chịu thua, chịu nhượng bộ để sống và để hưởng giàu sang; họ rất dễ phản bội, nhất là khi có ý lợi dụng đoàn thể. Chỉ những người không có gì phải sợ mất mới dễ liều, mới dễ phiêu lưu.
Xã hội loài người đã và đang sống trong sự phân chia giai cấp như thế. Những người yếu, những dân tộc kém mở mang, những đoàn thể thiểu số, thường bị bắt vào giai cấp dưới. Ý thức hệ mọc ra nhan nhản để biện chính cho sự chênh lệch đó. Có kẻ cho rằng nô lệ là một loại người hèn kém vì bản tính như thế.
Giai cấp trên ý thức được mình vượt lên trên vật chất. Do đó, họ thường có tư tưởng duy trí. Họ làm chủ người khác chứ không tự chủ. Trái lại, giai cấp dưới ý thức được rằng mình là vật chất, mất đời sống sinh lý tức là mất hết. Tư tưởng của họ thường là duy vật. Họ không làm chủ người khác, nhưng làm chủ vật giới và làm chủ bản thân. Do đó họ ý thức được giá trị của lao động, giá trị của thời gian và cho rằng thực chất của đời người là lao động. Khi giai cấp chủ thắng thế thì giá trị con người là ở chỗ tư tưởng. Khi giai cấp dưới đã làm chủ được thiên giới, thì ưu thế về phần họ: giá trị con người là ở lao động. Ở trong xã hội kém mở mang về kỹ thuật, giai cấp dưới bị yếu thế.
Mộ xã hội xây dựng theo tổ chức xã hội lý, không dừng lại ở việc phân chia giai cấp và phân chia ý thức như thế. Người Nô lệ bắt đầu ý thức được rằng mình là vật chất, đến chỗ ý thức rằng mình là chủ thể. Giữa ý thức về tự do và tình trạng nô lệ có sự mâu thuẫn. Lịch sử xã hội nhằm tiêu diệt cái mâu thuân đó. Xã hội sẽ gồm những người bình đẳng, tư tưởng người ta  sẽ không còn phải là duy tâm hay duy vật, nhưng người ta sẽ ý thức về mình như là một chủ thể tại thế.

III.                Con đường đến với tha nhân
1.        Quan điểm của Jean Paul Sartre về vấn đề nhìn nhận tha nhân.
Sartre từng đưa ra nhận định “Đối với ý thức tôi, tha nhân chỉ hiện hữu như một bản ngã bị từ chối. Nhưng tha nhân cũng chính là một bản ngã, nên tha nhân chỉ bị tôi chối cho tôi, xét như tha nhân là một bản ngã đang chối tôi. Chối, chối và chối: anh bị từ chối, tôi chối anh vì anh chôi tôi”.[8]
Một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng Jean Paul Sartre ảnh hưởng một phần nào đó của tư tưởng Hegel. Con đường đến với tha nhân là con đường đấu tranh. Thành thử, Sartre rất khó để công nhận tha nhân như là một chủ thể ngang hàng với mình. Ngay cả trong chuyện tình yêu Sartre cũng có những quan niệm đặc sắc về tình yêu: Trước hết, tôi phải liệu chiếm được chủ thể tính của tha nhân nghĩa là liệu sao đừng biến tha nhân thành sự vật; thứ đến, muốn giữ nguyên chủ thể tính của tha nhân, chính tôi lại cần coi mình như một vật bị nhìn. Tóm lại, tôi hoàn toàn coi mình là sự vật bị nhìn, có thế mới giữ được sự tự do ngó nhìn của tha nhân chủ thể. Dự phóng thông cảm với tha nhân là một dự phóng phi lý và không thể thự hiện được.
2.        Gabriel Marcel và con đường gặp gỡ tha nhân.
Theo Marcel hai chủ thể có thể gặp gỡ nhau khi hai người cùng kính trọng như những nhân vị đầy đủ chủ quyền và đầy đủ khôn ngoan.
Marcel cho biết theo kinh nghiệm của ông, mối tương đồng này rất ít thấy trong xã hội loài người. Người ta đưa ra những danh từ rất kêu như đồng bào, bình đẳng, đề cao nhân vị, nhân quyền. Tuy nhiên, thực mỗi người chỉ biết có mình thôi. Chỉ có tôi là nhân vị, chỉ mình tôi là chủ thể. Vì thế, khi người ta nói chuyện và bàn tính công việc với nhau, người trên thường lấy giọng phán truyền và người dưới biết ngay có đưa ra những ý kiến hay, cũng không được chấp nhận. Như vậy làm sao có đối thoại và gặ gỡ được. Điều này đúng cho tất cả mọi giao tiếp giữi người với người, giao tiếp chính trị, giao tiếp xã hội và giao tiếp gia đình. Trong tất cả mọi giao tiếp, gặp gỡ là điều kiện để có nhân đạo, và là điều kiện để thêm phong phú cho con người.[9]
3.        Ái tình
Thái độ người ta trong tình yêu khác với thái độ trong một xã hội mà các chủ thể tranh đấu nhau để được công nhận.
Nếu trước đây ta ý thức về, người khác, xét là người khác ta thì ở đây ta nhận ra người khác giới. Khác, nhưng lại bổ túc cho ta. Trong xã hội lý, ta bắt đầu từ chỗ tự tôn làm chủ và tìm cách khuất phục người khác, để rồi bó buộc nhìn nhận nhau như là những chủ thể bình đẳng. Trái lại, ở đây thì khác, ta không tìm cách đặt mình làm chủ người khác, coi người khác là phụ thuộc vào mình. Do đó, ta không đe dọa sinh mạng người khác và người khác và người khác cũng không đe dọa sinh mạng ta, vì chúng ta không tìm cách khuất phục nhau, nhưng là chúng ta tìm cách bảo đảm sinh mạng cho nhau và giúp đỡ nhau thăng tiến. Chúng ta nhìn nhận nhau ngay từ đầu. Anh yêu em dù em có thế nào trong mắt của anh em là tuyệt vời nhất.
Lúc này, liên lạc giữa người với nhau là liên lạc tự do, có những kiểu cách tế nhị. Trong khi tranh đấu để làm chủ vật giới và làm chủ người khác, ta không cần phải hỏi ý kiến xem vật giới và người khác có đồng ý với thái độ của ta hay không. Ngược lại, trong tình yêu người ta phải có sự ưng thuận của người kia mới được.
Kết quả không phải đánh nhau chí tử, mà là hợp nhất với nhau một cách sâu xa. Ở đây người ta gặp gỡ nhau trên tất cả bình diện có thể hiện thân được. Không những gặp nhau như là những công dân bình đẳng trong một định chế xã hội mà còn gặp nhau nơi thân thể là chỗ hiện thân căn bản. Hai người nam nữ có thể gặp nhau mật thiết đến nỗi vận mệnh hai người gắn liền với nhau.
Tất cả những xích mích chưa giải quyết được trong xã hội lý đều có thể thu xếp ổn thỏa ở đây. Vì trong tình yêu những ý niệm như quyền lợi đều mất ý nghĩa.
IV.                 Kết luận
Con đường đến với tha nhân theo Hegel là con đường đấu tranh để được người khác công nhận. Trái lại, con đường của Kitô giáo là con đường tìm gặp nhau trong yêu thương. Sở dĩ, Hegel không chọn con đường này vì ở nơi nẻo đường này đòi hỏi một thái độ Metanoia nghĩa là đảo ngược. Sự đảo ngược này được thể hiện rõ nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Ngài vì yêu thương nhân loại đã hy sinh mạng sống, hay nói cách khác là liều mất mạng sống để cứu độ nhân loại. Thông thường chúng ta giận ai, căm thù ai, chúng ta thường trút những căm thù và bạo lực lên người khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu thay vì nổi loạn, Ngài đã ôm lấy tất cả những thù hận, hứng chịu tất cả bạo lực của người khác vào nơi mình. Ngài là con người lịch sử và có công đầu khai mào lịch sử.

Tài liệu tham khảo.
1.       G. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải
2.       Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008
3.       Trần Văn Toàn, Hành trình đi vào Triết học, NXB Tri thức, 2012
4.       Trần Thái Đỉnh , Biện chứng pháp là gì, Ca dao, không rõ năm xuất bản
5.       Trần Thái Đỉnh, Triết học Descartes, NXB Văn học, 2005
6.       Trần Thái Đỉnh, Triết học Kant,Văn mới, 1974
7.       Nguyễn Trọng Viễn, Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin Công giáo tại Việt Nam, Chân lý, 2003




[1] Xem: H. Hesse: “ Narzib und Goldmund”; bản tiếng Việt: “Đôi bạn chân tình”, Vũ Đình Hựu dịch, NXB Ca dao, không nhớ năm.
[2] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006.
[3] Trần Thái Đỉnh, Biện chứng pháp là gì?, Ca dao, không rõ năm xuất bản, tr. 96
[4] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006, tr.458.
[5] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006, tr.459.
[6] G.W.F. Hegel, Hiện tượng học tinh thần, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn học, 2006, tr.459.
[7] Trần Văn Toàn, Hành trình đi vào con đường Triết học, NXB Tri thức,  2012, tr. 80
[8] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008, tr. 335.
[9] Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Văn học, 2008, tr. 289.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét